Cơ hội lịch sử để đột phá du lịch

Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm vừa ký ban hành về phát triển du lịch VN trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới, được coi là dấu mốc lịch sử mở đường cho ngành du lịch VN bứt phá trong thời gian tới.

Cơ hội lịch sử để đột phá du lịch

Định vị vai trò của du lịch trong kỷ nguyên mới

Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị khẳng định quan điểm chỉ đạo cần quán triệt là cần phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, là một động lực tăng trưởng mới của đất nước, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng “hai con số”; lấy văn hóa làm nền tảng cốt lõi, bản sắc và chất lượng trải nghiệm làm lợi thế cạnh tranh; phát triển dựa trên ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đồng thời cần tái cơ cấu ngành du lịch, chuyển mạnh mô hình phát triển từ số lượng sang chất lượng, thông minh, xanh, sáng tạo.

Việt Nam bắt đầu chiến lược chuyển đổi mô hình tăng trưởng du lịch từ số lượng sang chất lượng
Việt Nam bắt đầu chiến lược chuyển đổi mô hình tăng trưởng du lịch từ số lượng sang chất lượng

Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, du lịch VN là ngành kinh tế mũi nhọn đóng góp trực tiếp từ 10 – 12% GDP, giữ vững vị thế nhóm đầu khu vực Đông Nam Á về quy mô và tốc độ tăng trưởng; phấn đấu đón 45 – 50 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 160 triệu lượt khách nội địa; đặt trọng tâm vào thị trường khách chi tiêu cao, lưu trú dài ngày; tổng thu từ khách du lịch đạt 80 – 90 tỉ USD.

Trong đó, nêu rõ định hướng phát triển mạnh 3 cực tăng trưởng du lịch Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng; 10 trung tâm du lịch trọng điểm; 20 khu du lịch quốc gia; 15 tập đoàn, tổng công ty du lịch có thương hiệu mạnh và sức cạnh tranh quốc tế; bảo đảm khoảng 1,5 triệu buồng lưu trú du lịch. Toàn ngành tạo ra khoảng 2,3 triệu việc làm trực tiếp và 3,5 triệu việc làm gián tiếp. Đồng thời, hình thành đồng bộ hệ sinh thái du lịch thông minh, cơ sở dữ liệu du lịch quốc gia, nền tảng số du lịch quốc gia.

Ngành du lịch VN cần phấn đấu đến năm 2045 phát triển hiện đại, bền vững, khẳng định vai trò động lực của nền kinh tế, đóng góp trực tiếp 14 – 15% GDP; thuộc nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới; phấn đấu đón 70 triệu lượt khách du lịch quốc tế.

Theo lãnh đạo Cục Du lịch quốc gia VN, thời gian qua, với các cơ chế, chính sách thuận lợi được các cấp có thẩm quyền ban hành, ngành du lịch đã có bước tăng trưởng đột phá. Với những thành tựu đạt được, vị thế của ngành du lịch đối với sự phát triển KT-XH đã và đang được định hình. Đến nay du lịch đã trở thành điểm sáng trong phát triển KT-XH của đất nước. Sự tăng trưởng của du lịch đã tác động lan tỏa đến nhiều ngành, lĩnh vực khác; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống, cải thiện diện mạo đô thị và nông thôn; bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc.

Trong bối cảnh đó, nghị quyết mới của Bộ Chính trị về phát triển du lịch VN trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới mở ra một tầm nhìn phát triển mới với những mục tiêu cao hơn, cách tiếp cận toàn diện hơn và các giải pháp mang tính đột phá. Quan trọng hơn, nghị quyết xác định phát triển du lịch theo hệ sinh thái kinh tế tổng hợp và có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Đây không chỉ là định hướng cho một chặng đường mới của ngành du lịch, mà còn là lời khẳng định mạnh mẽ về vai trò của du lịch trong mô hình tăng trưởng mới của đất nước.

Dưới góc nhìn doanh nghiệp (DN), Chủ tịch Tập đoàn Vietravel Nguyễn Quốc Kỳ khẳng định sự ra đời của Nghị quyết 26 là một bước đi hoàn toàn đúng đắn và kịp thời sau một loạt nghị quyết tiền nhiệm như Nghị quyết 57, 59, 61, 08, 79, 70… Trong bối cảnh du lịch đang duy trì tốc độ tăng trưởng hai con số, việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 26 đã đặt đúng và trúng vai trò, vị thế của ngành du lịch – một ngành kinh tế mũi nhọn thực sự của đất nước. Không chỉ thay thế bằng một chiến lược toàn diện, Nghị quyết 26 còn đưa ra các định lượng, chỉ tiêu cụ thể từ tỷ lệ đóng góp GDP cho đến lượng khách quốc tế (inbound) tới khách nội địa. Đặc biệt, việc chỉ rõ 3 vùng trọng điểm tập trung cùng 10 khu vực ưu tiên phát triển đã giúp các địa phương tự định vị được tọa độ của mình trong chuỗi giá trị du lịch quốc gia.

“Đối với những người làm du lịch như chúng tôi, Nghị quyết 26 ra đời đúng lúc như một “bệ đỡ” vững chắc, một cột mốc định hướng mang tính căn cốt cho các DN và cả các địa phương bám vào để xây dựng chiến lược dài hạn và định vị sự phát triển của mình”, ông Nguyễn Quốc Kỳ nhấn mạnh.

Một số mục tiêu nghị quyết 26
Một số mục tiêu nghị quyết 26

Cơ hội lớn, thách thức cũng không nhỏ

Theo ông Nguyễn Quốc Kỳ, lợi thế lớn nhất của du lịch VN hiện nay chính là nền tảng văn hóa phong phú, giữ vai trò quyết định trong việc kiến tạo hệ thống sản phẩm và động lực tăng trưởng. Bên cạnh đó, việc phân định rõ không gian phát triển theo từng lợi thế đặc thù như văn hóa sông nước tại Hà Nội, trung tâm sông biển ở TP.HCM hay du lịch biển tại Đà Nẵng, cùng thị trường nội địa hơn 105 triệu dân chính là nguồn lực dồi dào để du lịch bùng nổ.

Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị được coi là dấu mốc lịch sử mở đường cho ngành du lịch VN bứt phá
Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị được coi là dấu mốc lịch sử mở đường cho ngành du lịch VN bứt phá

Tuy nhiên, Chủ tịch Tập đoàn Vietravel cũng thẳng thắn chỉ ra hàng loạt thách thức mang tính cốt lõi. Đầu tiên là áp lực từ mục tiêu tăng gấp đôi lượng khách (đạt 40 – 50 triệu lượt) tong vòng chưa tới 20 năm là một con số cực kỳ thách thức và không hề dễ dàng. Tiếp đó, khái niệm công nghiệp văn hóa dù được kỳ vọng nhưng đến nay vẫn chưa rõ hình thù cụ thể. “Chúng ta hình thành 15 tập đoàn du lịch nhưng có bao nhiêu tập đoàn về văn hóa? Cụ thể là bao nhiêu nhóm nhạc hay bao nhiêu công nghiệp văn hóa cụ thể để có thể biến thành sản phẩm cho ngành du lịch bám theo?”, ông Kỳ đặt vấn đề.

Đặc biệt, ông Kỳ bày tỏ sự trăn trở lớn trước bài toán định hình lực lượng và cơ chế bệ phóng cho DN. “Nếu nhà nước không có tiêu chí định vị và chính sách cụ thể, nguy cơ rất lớn 15 tập đoàn du lịch tiêu biểu có thể đều biến thành các tập đoàn bất động sản nghỉ dưỡng. Trong khi đó, bản thân bất động sản không thể tự tạo ra hệ sinh thái kéo khách đến mà chỉ đóng vai trò hỗ trợ. Các tập đoàn lữ hành (Tour Operator – TO), các nền tảng kinh doanh số và đại lý du lịch trực tuyến (OTA lớn tầm cỡ thế giới) mới chính là những “máy cái”, là lực lượng chủ động trong việc phát động, điều tiết và chuyển dịch thị trường khách. Việc nghị quyết đưa ra mục tiêu phát triển 15 tập đoàn du lịch lớn là một định hướng rất lớn của Đảng và Nhà nước. Vậy các tập đoàn này sẽ được định hướng phân vai thế nào, hưởng cơ chế, chính sách hỗ trợ ra sao… Đó là những câu hỏi cần trả lời”, ông Kỳ phân tích.

Song song, bài toán hạ tầng vận chuyển cũng sẽ là “nút thắt cổ chai” khi khách quốc tế phụ thuộc tới 85 – 90% vào hàng không; đường bộ, đường thủy và đường sắt chỉ chiếm 10 – 15%. Tuy nhiên, toàn bộ đội tàu bay của VN hiện chưa tới 400 chiếc, chỉ bằng quy mô một hãng hàng không nước ngoài. Tính trên đầu người với 105 triệu dân, tỷ lệ này còn rất thấp, đi trong nước còn chưa đủ chứ chưa nói đến việc vươn ra chiếm lĩnh, khống chế và phát động thị trường quốc tế theo ý mình.

PGS-TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, thì cho rằng điểm nghẽn lớn nhất hiện nay vẫn là thể chế và khả năng điều phối một ngành kinh tế có tính liên ngành, liên vùng rất cao. Du lịch không thể phát triển chỉ bằng chính sách của riêng ngành du lịch. Nếu mỗi lĩnh vực vận hành theo một logic riêng, mỗi địa phương phát triển theo địa giới hành chính của mình, thì rất khó hình thành một chuỗi trải nghiệm liền mạch.

Bên cạnh đó, ông Bùi Hoài Sơn đánh giá hệ thống sản phẩm và khả năng tạo giá trị gia tăng của ngành du lịch hiện vẫn còn hạn chế. VN có tài nguyên rất phong phú, từ di sản, cảnh quan, ẩm thực, làng nghề đến biển đảo, nhưng tài nguyên tự thân chưa phải là sản phẩm du lịch. Chúng ta vẫn còn thiếu những sản phẩm đủ sức trở thành lý do để du khách lựa chọn VN, kéo dài thời gian lưu trú và sẵn sàng chi trả cao. “Nói cách khác, chúng ta có nhiều “điểm để đến”, nhưng chưa phải nơi nào cũng tạo được “lý do để ở lại” và “lý do để chi tiêu”. Đây là khoảng cách rất lớn giữa tăng trưởng khách và tăng trưởng giá trị”, ông Sơn nói.

Cơ hội lịch sử để đột phá du lịch
Cơ hội lịch sử để đột phá du lịch
VN đặt mục tiêu 20 năm tới, du lịch vào top 30 mạnh nhất thế giới

Điểm nghẽn thứ ba, theo ông Sơn, là hạ tầng và chất lượng kết nối. Những năm qua, hạ tầng giao thông quốc gia đã có bước tiến rất đáng kể, nhưng với du lịch, điều quyết định lại là tính đồng bộ của cả hành trình từ cửa ngõ quốc tế đến điểm đến cuối cùng. Năng lực hàng không, cảng tàu khách, đường sắt, đường thủy, giao thông công cộng, bãi đỗ xe, nhà vệ sinh, biển chỉ dẫn, không gian đi bộ, hạ tầng số, thanh toán và thông tin đa ngôn ngữ đều trực tiếp tạo nên trải nghiệm của du khách. Một sân bay hiện đại nhưng kết nối vào trung tâm bất tiện, một di sản đặc sắc nhưng thiếu dịch vụ bổ trợ, hay một điểm đến đông khách nhưng hạ tầng môi trường quá tải đều làm giảm giá trị của toàn bộ sản phẩm.

Cuối cùng là chất lượng nguồn nhân lực, năng lực DN và quản trị điểm đến. Du lịch chất lượng cao đòi hỏi không chỉ người lao động giỏi nghề và ngoại ngữ, mà còn phải có kỹ năng số, tư duy dịch vụ, khả năng kể câu chuyện văn hóa, ý thức xanh và năng lực xử lý tình huống. Trong khi đó, nhiều DN du lịch còn nhỏ, nguồn lực hạn chế, khả năng xây dựng thương hiệu, khai thác dữ liệu, tiếp cận khách quốc tế và tham gia sâu vào chuỗi phân phối toàn cầu chưa tương xứng.

“Nếu không nâng được năng lực của DN VN và chất lượng quản trị điểm đến, một phần đáng kể giá trị tạo ra có thể không ở lại trong nền kinh tế trong nước. Vì thế, bài toán năm 2030 thực chất là bài toán nâng cấp toàn bộ hệ sinh thái du lịch, chứ không đơn thuần là bài toán tăng lượng khách”, PGS-TS Bùi Hoài Sơn chỉ rõ.

Cần triển khai Nghị quyết với tư duy đột phá

Trước những thách thức lớn như vậy, PGS-TS Bùi Hoài Sơn cho rằng để đạt được mục tiêu mà Nghị quyết 26 đề ra, cần triển khai nghị quyết với tư duy chọn đúng một số khâu đột phá và làm đến nơi đến chốn, thay vì dàn trải thành quá nhiều chương trình nhỏ.

Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị khẳng định mục tiêu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị khẳng định mục tiêu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

Trước hết là đột phá về thể chế. Cần sớm rà soát hệ thống pháp luật liên quan, xác định rõ những quy định đang làm chậm việc hình thành sản phẩm mới hoặc cản trở liên kết chuỗi giá trị du lịch, từ thị thực, xuất nhập cảnh, đất đai, đầu tư, thuế, phí, hợp tác công – tư đến kinh tế đêm, du lịch đường thủy, các nền tảng xuyên biên giới và quản trị dữ liệu. Ông Sơn đặc biệt ủng hộ cách tiếp cận mà nghị quyết đã mở ra, đó là cho phép thí điểm có kiểm soát đối với những vấn đề cấp bách nhưng pháp luật chưa kịp quy định. Tuy nhiên, thí điểm phải đi cùng tiêu chí, thời hạn, trách nhiệm giải trình, cơ chế hậu kiểm và đánh giá tác động rõ ràng.

Tiếp đến, phải tái cấu trúc sản phẩm theo thị trường mục tiêu, không làm sản phẩm theo cách “chúng ta có gì thì bán nấy”. Với từng nhóm khách có khả năng chi trả cao và lưu trú dài ngày, cần nghiên cứu kỹ nhu cầu để thiết kế chuỗi trải nghiệm phù hợp. VN cần hình thành một số sản phẩm biểu tượng, đủ mạnh để nhận diện quốc gia, đồng thời mỗi địa phương phải tìm ra lợi thế thật sự khác biệt của mình.

Cùng với đó, ưu tiên hạ tầng theo logic “kết nối đến trải nghiệm”, chứ không chỉ theo logic đầu tư công trình. Những dự án giao thông lớn như sân bay, cao tốc, đường sắt, cảng biển là điều kiện cần, nhưng phải đồng thời đầu tư cho hạ tầng tiếp cận điểm đến, giao thông công cộng, bến tàu khách, bến du thuyền, trung tâm hội nghị – triển lãm, không gian biểu diễn, thiết chế văn hóa, hạ tầng số, hệ thống thông tin và thanh toán thuận tiện. Đặc biệt, các cực tăng trưởng du lịch như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng và các trung tâm du lịch trọng điểm cần được nhìn như những “hub” có khả năng kéo cả vùng phát triển, chứ không phải những điểm đến tách rời. Liên kết vùng phải được thể hiện bằng sản phẩm chung, dữ liệu chung, hạ tầng kết nối và chiến dịch xúc tiến chung.

Song song, cần coi nhân lực là hạ tầng mềm của du lịch, chuyển từ đào tạo theo khả năng cung ứng của nhà trường sang đào tạo theo nhu cầu của thị trường và DN. Mô hình liên kết giữa cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo và DN phải trở thành cơ chế thường xuyên; chuẩn nghề phải tiệm cận quốc tế. Hội đồng kỹ năng nghề du lịch quốc gia mà nghị quyết đặt ra, nếu được vận hành thực chất với tiếng nói mạnh của DN, có thể giúp khắc phục khoảng cách lâu nay giữa đào tạo và sử dụng lao động. Đồng thời phải có chính sách để giữ chân lao động giỏi, thu hút chuyên gia và nâng thu nhập của người làm du lịch.

PGS-TS Bùi Hoài Sơn đặc biệt chú trọng việc nâng năng lực DN VN và tạo được những DN có vai trò dẫn dắt. Bên cạnh 15 “đầu tàu” như mục tiêu của nghị quyết, chính sách phải tạo điều kiện để DN vừa và nhỏ, hộ kinh doanh và cộng đồng địa phương tham gia được vào chuỗi giá trị. Nhà nước cần hỗ trợ DN chuyển đổi số, tiếp cận dữ liệu thị trường, tín dụng xanh, xúc tiến quốc tế, mở đường bay và phát triển sản phẩm mới; đồng thời tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng với các nền tảng trực tuyến xuyên biên giới.

Ở vị trí DN, ông Nguyễn Quốc Kỳ đề xuất trước hết nhà nước cần sớm bắt tay vào việc thiết kế chi tiết các cơ chế, chính sách đồng bộ. Đồng thời, nhà nước phải có chính sách hỗ trợ trọng tâm, “bồi bổ” cho lực lượng DN lữ hành nòng cốt (các TO, OTA) và các đơn vị vận chuyển hàng không để VN đủ sức vươn ra thế giới, chủ động nắm thế thượng phong trong việc phát động thị trường nguồn đưa khách vào VN.

Theo: thanhnien

Bài viết liên quan